Ngày 3/7/2025, đoàn Thư ký HĐ các dòng họ Việt Nam TP Hải Phòng đã đến chiêm bái dâng hương tại Miếu thờ Danh tướng Tô Hiến Thành ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Theo sử sách, ông Tô Hiến Thành (1102 – 1179) hiệu Phi Diên, sinh ở xóm Lê, hương Ô Diên, huyện Vĩnh Khang, đất Kinh kỳ. Ngày nay thuộc thôn Hạ Mỗ, xã Hồng Thái, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Sử ký và các bộ sử không chép rõ về xuất thân của Tô Hiến Thành, cũng không ghi chép gì về khoa cử của ông.
Theo sách “Từ Liêm huyện đăng khoa chí” của cử nhân Bùi Xuân Nghi thì ông Tô Hiến Thành từng đỗ khoa thi Minh Kinh bác học (tương đương tiến sĩ) vào năm Mậu Ngọ (1138) đời Lý Thần Tôn. Văn bia, khắc trên bia Văn chí huyện Từ Liêm dựng vào niên hiệu Tự Đức thứ 25 (1872) và sử liệu “Bản phủ tiền triều chư danh khoa bi” cũng chép ông Tô Hiến Thành đỗ khoa Minh Kinh bác học, năm Mậu Ngọ, Lý Thần Tôn, làm quan đại thần 2 đời vua nhà Lý.
Theo “Đại Việt Sử ký toàn thư”, vào mùa Đông, tháng 10 năm Canh Tuất (1141), thầy bói Thân Lợi tự xưng là con của Nhân Tông, đem đồ đảng tiến đến Thái Nguyên, chiêu mộ 800 thổ binh, mưu làm loạn. Tháng Giêng, năm Tân Dậu (1141) Thân Lợi tự xưng Bình Vương, cướp phá chiếm giữ phủ Phú Lương, đem bè đảng về cướp kinh đô Thăng Long.
Vua sai Gián nghị Đại phu Lưu Vũ Nhĩ và Thái phó Hứa Viên đi đánh Thân Lợi. Sử ký chép: “Mùa Đông, tháng 10, ngày mồng 1, lại sai Anh Vũ đi đánh châu Lục Lệnh, bắt được bọn bè đảng của Thân Lợi hơn 2.000 người. Lợi trốn sang châu Lạng, Thái phó Tô Hiến Thành bắt được Lợi, giao cho Anh Vũ đóng cũi giải về kinh sư”. Sự kiện này xảy ra vào mùa Đông năm 1141. Thân Lợi bị chém đầu, thị uy ở kinh thành Thăng Long.
Từ đây, vai trò giúp vua giữ nước của danh quan Tô Hiến Thành được sử ký ghi chép có hệ thống. Sử ký chép: “Năm Kỷ Mão (1159) niên hiệu Đại Định thứ 20, mùa Hạ, tháng 5, Ngưu Hống và Ai Lao (Lào) làm phản, vua sai Tô Hiến Thành đi đánh, bắt được người và trâu ngựa voi, vàng bạc, châu báu rất nhiều, phong Hiến Thành làm Thái uý”. Ngưu Hống xưa, là một tiểu quốc, định cư ở vùng Tây Bắc Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào khoảng năm 1159 thời nhà Lý, Ngưu Hống trở thành đất nội thuộc nước Đại Việt.
Tháng 2, năm Đại Định thứ 21 (1160) vua Lý Anh Tông sai Tô Hiến Thành đi tuyển dân đinh, chọn người khỏe mạnh sung vào quân ngũ. Chọn các tướng hiệu, những người thông thạo binh pháp, am tường võ nghệ thì cho cai quản việc quân. Tháng 11, năm 1160, vua sai Tô Hiến Thành làm Đô tướng, Đỗ An Di làm Phó tướng, đem 2 vạn quân đi tuần tra ven biển Tây Nam, để giữ yên miền biên giới.
Vua thân chinh tiễn đến cửa biển Thần Đầu ở cửa Đại An (tức là cửa Thần Phù, Thanh Hóa) mới trở về kinh đô Thăng Long. Mùa Thu, tháng 7 năm Đinh Hợi (1167), niên hiệu Chính Long Bảo Ứng, sai Thái uý Tô Hiến Thành đi đánh Chiêm Thành. Tháng 10, Chiêm Thành sai sứ sang dâng trân châu, sản vật xin hàng. Vua xuống chiếu cho Tô Hiến Thành đem quân về. Từ đó, nước Chiêm Thành thần phục giữ lễ phiên thần, dâng cống phẩm đầy đủ.
Ông làm quan cho 2 đời vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Sách “Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam” nhận xét về danh quan Tô Hiến Thành: “Là người khẳng khái, làm quan đến Thái phó rồi Thái uý đời vua Lý Anh Tông, ông là người trung trực và liêm khiết” (Sđd. tr. 56).
Sử gia Ngô Thì Sĩ đánh giá về phẩm chất, lòng trung thành và sự liêm chính của Tô Hiến Thành rất cao: “Ông nào cũng có công lớn để lại, duy có người đủ tài lược, phẩm vọng, hết lòng trung thành, gánh vác công việc rất khó, làm cho vua được yên trên ngôi báu, nước được hưởng phúc thái bình duy chỉ có một ông Tô Hiến Thành là hơn hết” (Việt sử Tiêu án).
Theo sử ký, tháng 9 năm Giáp Ngọ (1174) Thái tử Long Xưởng phạm tội, bị giam và phế bỏ bắt làm dân, đuổi đi sống ngoài dân gian. Vua cho gọi tể tướng Tô Hiến Thành đến bảo rằng: “Thái tử là gốc của nước, Long Xưởng đã làm điều trái đạo, trẫm muốn Long Trát (tức Long Cán) nối giữ nghiệp lớn nhưng nó còn nhỏ tuổi sợ không đương nổi, nếu đợi lớn thì trẫm tuổi đã già suy yếu biết làm thế nào”.
Vua suy nghĩ, quyết định lập Long Trát làm Thái tử. Lúc phó thác con côi, vua Lý Anh Tông, phong Tô Hiến Thành làm phụ chính, giúp đỡ Thái tử: “Mùa Xuân, tháng Giêng năm Ất Mùi (1175), sách lập Long Trát làm Hoàng thái tử. Phong Tô Hiến Thành làm Nhập nội Kiểm hiệu, Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, tước Vương, giúp đỡ Thái tử Long Trát” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Vua ốm nặng, Hoàng hậu xin lập Long Xưởng, nhưng Lý Anh Tông không nghe, ban chiếu giao cho Tô Hiến Thành giúp rập Thái tử Long Trát, việc nước thống nhất tuân theo phép cũ. Bấy giờ Thái hậu muốn làm việc phế lập, sợ Tô Hiến Thành phản đối, bèn đem vàng bạc đút cho vợ ông là Nữ thị. Tô Hiến Thành nói với Nữ thị: “Ta là đại thần nhận việc tiên đế dặn lại giúp rập vua bé, nay lấy của đút mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở suối vàng”. Rồi kiên quyết đem trả, không nhận.
Sau đó, Thái hậu lại gọi Tô Hiến Thành đến dỗ dành trăm cách. Tô Hiến Thành trả lời Thái hậu: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có vui làm. Huống chi lời của tiên đế còn ở bên tai, điện hạ lại không nghe việc của Y Doãn, Hoắc Quang hay sao? Thần không dám vâng chiếu”.
Từ đó, việc Thái hậu đút lót, phế lập chấm dứt. Hôm mãn quốc tang, Chiêu linh Hoàng thái hậu ban yến tiệc cho các quan ở biệt điện nói rằng: “Tiên đế đã chầu trời, vua nối còn nhỏ, nước Chiêm Thành thất lễ, người phương Bắc vào cướp biên ải. Các khanh chịu ơn của triều đình, nên lo việc của nước nhà. Kế sách ngày nay không gì bằng lập lại Thái tử, để vận nước được lâu, lòng dân được yên”.
Các quan chắp tay tâu rằng: “Thái phó Tô Hiến Thành nhận mệnh lệnh rõ ràng của Thiên tử. Bệ hạ (Thái hậu) cũng đã nhiều lần dỗ bảo rồi, bọn thần không dám trái lệnh”. Tô Hiến Thành quản lĩnh cấm binh, nghiêm hiệu lệnh, thưởng phạt công bằng, toàn dân trong nước Đại Việt đều quy phục, không ai dám trái lệnh, nổi dậy chống phá.
Khi Tô Hiến Thành lâm bệnh nặng, có viên quan Tham tri Chính sự Vũ Tá Đường, ngày đêm chăm sóc bên giường bệnh. Gián nghị Đại phu Trần Trung Tá, vì bận việc nước không lúc nào rỗi để tới thăm hỏi.
Đến khi bệnh nặng, Thái hậu thân đến thăm hỏi rằng: “Nếu có mệnh hệ nào thì ai là người thay thế ông?”. Tô Hiến Thành trả lời: “Trần Trung Tá có thể thay được”. Thái hậu nói: “Tán Đường hàng ngày hầu thuốc thang, sao không thấy ông nhắc tới”. Hiến Thành trả lời: “Vì bệ hạ hỏi người nào có thể thay thần giúp vua nên thần nói đến Trung Tá. Còn hỏi người hầu dưỡng thì ngoài Tán Đường còn ai nữa”. Thái hậu khen là trung thần. Năm 1179 Thái uý Tô Hiến Thành chết, vua bớt ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày.
Nhà sử học Phan Huy Chú hết lời khen ngợi nhân cách Tô Hiến Thành: “Ông là quan đầu triều, khéo xử trong khi biến cố, dù sóng đánh đập lay chuyển mà cột đá vẫn trơ trơ không dời, cuối cùng khiến cho trên yên dưới thuận, thật không thẹn với phong thể bậc đại thần đời xưa” (Tr. 222 Lịch triều Hiến chương Loại chí).
Bình luận trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Tô Hiến Thành nhân việc ký thác con côi, hết lòng trung thành, khéo xử trí khi biến cố, tuy bị gió lay sóng đập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng, khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần thời xưa. Huống chi đến lúc sắp chết còn vì nước tiến cử người hiền, không vì ơn riêng, Thái hậu không dùng lời nói của Hiến Thành là việc không may cho nhà Lý vậy”.
Lúc dưỡng bệnh, gần chết vẫn nghĩ đến việc giữ cho nước thái bình, dân hạnh phúc khi chọn Gián nghị Đại phu Trần Trung Tá làm phụ chính, phó thác con côi thay thế ông phò tá vua Cao Tông. Thật đáng tiếc, Thái hậu không dùng kế sách của Tô Hiến Thành để đến nỗi nhà Lý suy yếu dần và chuyển giao sang triều đại nhà Trần bằng hôn nhân chính trị.
Sau khi qua đời, danh thần Tô Hiến Thành được nhân dân miền Bắc và Bắc miền Trung lập đền thờ, tôn làm đức Thánh. Ông được thờ tại các di tích đền Thánh Tô, đình Trùng Hạ và Trùng Thượng, tỉnh Ninh Bình; đền Đông ở xã Đồng Môn, thành phố Hà Tĩnh; miếu Mây xã Lưu Vĩnh Sơn, huyện Thạch Hà; di tích cấp Quốc gia đình Hội Thống, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) thờ Tô Hiến Thành làm thành hoàng xã Hội Thống. Ở tỉnh Thanh Hóa có 72 đền thờ Tô Hiến Thành. Đền thờ tại làng Cẩm Đới được xem là nơi thờ chính.
Tô Hiến Thành được vua Lý Anh Tông ban thưởng điền trang ở trang Viên Lang, lộ Hải Đông, nay thuộc xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Khi ông mất, nhân dân xây đền thờ tại đây và được vinh danh là Thành hoàng làng Viên Lang, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
MT