Trạng nguyên Hồ Hưng Dật (胡興逸) là nhân vật lịch sử, ông sinh năm 907 – Đinh Mão, trong gia đình nhà Nho, thi đỗ Trạng nguyên (năm mất chưa tỏ tường) . Ông là người Việt tộc ở Chiết Giang, nước Ngô Việt, dòng Bách Việt, thời Ngũ Quý (603 – 938). Ông từ Ngô Việt đến Lạc Việt khoảng năm 932 – 934 (có tư liệu nói khoảng năm 923 – 931)
Trạng nguyên Hồ Hưng Dật là Thủy tổ của các triều đại nhà Hồ vua cải cách Hồ Quý Ly, triều đại Tây Sơn tam kiệt vua Quang Trung – Nguyễn Huệ húy Hồ Thơm, anh hùng Giải phóng dân tộc và thời đại Hồ Chí Minh oanh liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh[1], người kết nối trăm họ thành một khối đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới. Tổng bí thư Lê Duẩn nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lê Duẩn[2] vốn là dòng dõi của ông Tổ Hồ Tiết Lăng lập công lớn giúp nhà Lê đại thắng ngoại xâm.
TRẠNG NGUYÊN HỒ HƯNG DẬT VỚI SỰ NGHIỆP DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC ĐẠI VIỆT:
Theo lịch sử Quốc gia, địa phương, Thần phả, gia phả ghi nhận: Trạng nguyên Hồ Hưng Dật đã đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đại Việt khoảng 18 năm qua 3 Triều đại làm quan Tri châu Châu Diễn thời Dương Đình Nghệ (923-931), quan Thứ sử (Thái thú ?) Châu Diễn (Nghệ An) thời Ngô Vương Quyền (939-967), quan Trấn Thủ Châu Hoan (Nghệ Tĩnh) thời vua Đinh Tiên Hoàng (968-980), như sau:
Theo sử lược 1 và toàn thư[3]: “Trạng nguyên Hồ Hưng Dật người Chiết Giang, dòng dõi nhà Ngu (Vua Ngu Thuấn), sang nước ta từ thời Ngũ Quý, làm quan Tri Nhậm (Tri Châu) tại Diễn Châu, lúc nước nhà trong thời mười hai Sứ quân. Ông lập ấp ở các vùng Tiên Sinh và Bàu Đột ? (Bàu Đót)”.
Theo Hồ tộc 6 chi Phú Nghĩa[4] (Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu) chép: “Ông Hồ Hưng Dật tên chữ là Trọng Tuân, đậu Trạng nguyên, là người ở tỉnh Chiết Giang, cuối đời nhà Đường sang làm quan Châu Diễn. Đầu tiên, ông sang ở thôn Tam Công là thuộc đất tổng Quỳ Trạch, Yên Thành ngày nay sau nữa làm trang trại ở hương Bàu Đót, còn cháu nối tiếp nhiều đời ở đó. Họ Hồ Hoan Châu đều là con cháu ta cả”
ĐVSKTT ghi: “Hồ Hưng Dật vốn người Ngô Việt ở Chiết Giang, đời hậu Hán, Ngũ Quý sang làm Thái thú? Châu Diễn, sau nhà ở hương Bào Đột,(Hương Bàu Trạch-Viện NC Hán Nôm) châu ấy, rồi làm Trại chủ”[5]
Theo Lịch sử xã Mã Thành[6]: Sử cũ chép lại, khi Trạng nguyên Hồ Hưng Dật quê Chiết Giang (Ngô Việt), được cử sang làm Tri Châu của Châu Diễn (có tài vliệu viết thời Ngũ Đại 907-960, có tài liệu viết thời Hậu Đường 923-938).
Theo lược sử 1 và Toàn thư[7] chép: “Ông chỉ làm quan trong thời Dương Đình Nghệ – Ngô Quyền và tiếp tục ở vị trí đó xen kẽ thời Hậu Ngô Vương. Ngày đó quan đầu các Châu không phải là Thái thú mà là Thứ sử như Đinh Công Trứ là Thứ sử Châu Hoan cùng thời, cùng là bạn đồng liêu.
Theo “họ Hồ Việt Nam – Cội nguồn và phát triển”, NXB KHXH, 2020 (trang 23, dòng 1) đã chính thức bãi bỏ: “Những ý kiến cho rằng nguyên Tổ Hồ Hưng Dật được “cử sang” hoặc “phụng mệnh” sang làm Thái thú lộ Diễn Châu là trái với chính sử, chính phả và thực tế lịch sử thời bấy giờ”
Theo lịch sử nhà Đinh[8] ghi: “Hồ Hưng Dật Thủy tổ họ Hồ Việt Nam, là người Chiết Giang. Đỗ Trạng nguyên thời Hậu Hán. Hồ Hưng Dật đã sang Tĩnh Hải quân sau khi đỗ Trạng nguyên đúng thời thập nhị sứ quân, sinh sống tại Hương Bàu Trạch, Yên Thành nay (Hương Bào Đột, xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu? – Là sai lịch sử). Ông kết bạn với Đinh Công Trứ[9] (thân sinh Đinh Bộ Lĩnh).
Theo lịch sử nhà Đinh[10] chép: “Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy quân dẹp loạn sứ quân, có gặp ông để tham vấn ý kiến. Ông có góp với Đinh Bộ Lĩnh về kế sách dẹp loạn 12 sứ quân. Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, phong ông Hồ Hưng Dật làm Trấn thủ Châu Hoan”. Hồ Hưng Dật là một trong số 267 tướng lĩnh nhà Đinh được thờ phụng tại Đình Tân Phúc, Quỳ Lăng, Yên Thành, Nghệ An.
Theo Hồ gia phả ký[11] chép: “Hồ Hưng Dật có lần góp ý với Đinh Bộ Lĩnh về kế sách dẹp loạn sứ quân. Còn việc giữ trị an bá tính không dấy binh tranh bá đồ vương thì ông thổ lộ với Đinh Bộ Lĩnh là khi lưu lạc đến đây, với tâm nguyện là “Vạn đại vi dân”. Thế là sau cuộc Nam tiến từ đất Chiết Giang, Ngô Việt trong Bách Việt, ông đến xứ sở Lạc Việt, hòa nhập với cộng đồng. Sách cũ còn ghi triết lý “phúc bất năng hưởng tận” mà ông để lại cho con cháu đời đời chia sẻ với cộng đồng niềm vui, hạnh phúc”.
Trong thời sứ quân (944-968), 12 sứ quân nổi loạn xưng hùng, xưng bá đồ vương khắp nơi. Nhưng suốt hơn 20 năm đó, Trạng nguyên Hồ Hưng Dật là thủ lĩnh vẫn trung thành với vương chủ Đại Việt không màng danh vọng, vẫn kiên cường giữ vững trị an vùng cực nam trọng yếu và rộng lớn này[12] trong khi đó Đinh Công Trứ mất năm 940, Ngô Quyền mất năm 944), không còn ai khác ngoài Hồ Hưng Dật [13] Có lực lượng và uy tín lớn trong vùng(?)
LỴ SỞ CHÂU DIỄN VỚI ĐẠI BẢN DOANH, DANH GIA VỌNG TỘC – NƠI PHÁT TÍCH HỌ HỒ VIỆT NAM:
Lỵ sở Châu Diễn đóng tại Quỳ Lăng xưa, nay là xã Lăng Thành, huyện Yên Thành suốt khoảng 3 thế kỷ (927-979). Nơi Lỵ sở đại bản doanh của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật làm quan khoảng 18 năm. Cách làng Kẻ Cuồi, thôn Tam Công, xã Thọ Thành khoảng 1,5 km là nơi ở Danh giá vọng tộc của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật. Nơi phát tích cội nguồn gốc tổ họ Hồ Việt Nam.
Theo lịch sử xã Mã Thành[14]: “Từ năm 939, nước nhà giành được quyền tự chủ, các triều đại Ngô (939-967), Đinh (968-980), vẫn chọn Quỳ Lăng làm Lỵ sở Châu Diễn. Thời Triều Lê (980-1009), Lỵ sở Châu Diễn chuyển về Kẻ Dền, Công Trung Thượng (Văn Thành, Yên Thành)[15].
Theo “Lý lịch di tích Đình Sừng”[16]: “Lúc bấy giờ (679), đã chọn làm nơi đóng Trị sở của Châu Diễn và cũng từ đó cho đến hết Triều đại nhà Đinh (979), liên tục trong 3 thế kỷ, Trị sở của Châu Diễn luôn đóng tại Kẻ Sừng, cho đến năm 980 – năm đầu tiên của triều tiền Lê, Trị sở của Châu Diễn mới chuyển từ Kẻ Sừng (LăngThành nay) đến Kẻ Dền, Công Trung thượng (nay thuộc xã Văn Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An)”.
Một nhà phong thủy xem đất Lăng Thành[17]: “thế núi, hình khe ở đấy có hình rồng uốn lượn, ngựa phi, thung lũng kín đáo, vừa có núi non hiểm trở, lưng tựa vào núi, mặt hướng ra đồng bằng, thông ra cửa Lạch Vạn, cửa Hiền, có thể chọn làm hậu cứ dựng đặt gửi gắm niềm tin vào sự vững mạnh của các triều đại”.
Theo Cuốn Quỳ Trạch tổng biên (1885) của Tiến sỹ Trần Đình Phong, ghi: “Sau khi thôi quan Ngài (Hồ Hưng Dật) lui về vùng đất Ngũ Bàu: Bàu Gia, Bàu Sàng, Bàu Canh, Bàu Sừng và Bàu Diệu Ốc, là nơi có Trị sở làm việc của Ngài. Tất cả các nơi này đều có Miếu và Đền thờ Ngài”.
Theo Lịch sử huyện Yên Thành[18] ghi: “Năm Định Quán thứ nhất (627) đời Đường, phía Bắc châu Hoan gọi là Châu Diễn có lúc gọi là Long Trì gồm 7 huyện. Trị (Lỵ) sở đóng tại Quỳ Lăng (Lăng Thành). Được quyền tự chủ các triều đại Ngô (939-969) và Đinh (968-980) vẫn chọn Quỳ Lăng làm lỵ sở châu Diễn. Thời tiền Lê (981-1009) chọn Kẻ Dền, Công Trung Thượng, xã Văn Thành (Yên Thành) làm lỵ sở”.
Lịch sử Đảng bộ Nghĩa Đàn[19]ghi: “Năm 679, nhà Đường chia vùng Nghệ Tĩnh thành 2 châu là Châu Diễn và Châu Hoan. Châu Diễn đóng Lỵ sở ở Quỳ Lăng (nay thuộc xã Lăng Thành, Yên Thành). Nghĩa Đàn thuộc lãnh thổ của Châu Diễn”.
Theo Hồ Tông thế phả[20] trang 13 phiên âm, (trang 127 Hán nôm, dòng 5), chép: “Ông Hồ Hưng Dật sau khi thôi quan về ở Hương Bàu Trạch”, tổng Quỳ Trạch xưa, Yên Thành ngày nay. “Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người huyện Vũ Lâm, Tích Giang, tỉnh Phúc Kiến, thời Ngũ Đại (Ngũ Quý) hậu Hán Ẩn đế, là nho thần sang nước ta làm Thái thú? (Thứ sử) Diễn Châu. Đến thời nước ta có loạn 12 sứ quân, Ngài lui về làm trại chủ hương Bàu Trạch (Bào Đột) tức nay là Bàu Giang?) thuộc Châu ta. Về sau các chi phái phồn thịnh, người họ Hồ trong Châu ta đều là duy duệ của Ngài. Nhưng rồi gần 400 năm càng xa chi phái, càng phân chia, không rõ được phả ký, chỉ từ ông Hồ Kha về sau, Thượng thư duệ quận công Hồ Sỹ Dương biên chép, tham nghị Hồ Sỹ Tông khảo đính, Giáp quận công Hồ Sỹ Đống liệt biên thế thứ”.
ĐVSKTT của sử thần Ngô Sĩ Liên[21] chép: “Hồ Hưng Dật là Thái thú? Châu Diễn (Thứ sử mới đúng- HMH) sau về hương Bào Đột (Hương Bàu Trạch mới đúng lịch sử – HMH) cùng con cháu tiếp tục thay nhau làm trại chủ, đời Lý có người lấy công chúa Nguyệt Đích và Hồ Hưng Dật đã giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân”. Theo gia phả họ Hồ Quỳnh Đôi của Hồ Sỹ Hinh[22], chép: “Khi lên ngôi Hoàng đế, vua Đinh Tiên Hoàng vì đại ân, thâm tình và tín nhiệm, lại còn xem ông như bậc thầy nên đã vinh danh ông là “Tiên sinh” mà đặt tên cho các vùng đất Quỳ Trạch (Yên Thành) rồi đến Nghĩa Liệt (Nghĩa Đàn) là “Tiên Sinh họ Hồ” vì ông đã có công với nước, với nhân dân trong vùng. Tiếng xưng hô trịnh trọng đó dành riêng cho Tiên sinh Hồ Hưng Dật (Tiên sinh, xưa nay chỉ dùng trong giới tri thức và Vương giả để tôn xưng người được tôn kính đặc biệt).
Theo Lịch sử xã Mã Thành[23]: “Khi Hồ Hưng Dật mất, chức Tri Châu được truyền lại cho con cháu kế thế, hậu duệ của Hồ Hưng Dật đã chọn vùng đất phía Bắc làng Quỳ Lăng, Yên Mã để an táng vị triều Tổ ở đây. Bà con thường gọi là Tiên Sinh ồ ồ. Nay vùng đất ấy gọi là Mã Tổ. Sau này nhân dân xây dựng ở vùng đất ấy một cái hồ gọi là Hồ Mã Tổ, nằm trên vùng đất phía Bắc của hai xã Mã Thành và Tân Thành”.
– Đình Sừng[24]: Theo “lý lịch di tích Đình Sừng”, chép: Xưa tại Tòa hậu cung của đình Sừng được bài trí 02 long ngai bài vị và đồ tế khí khác để phụng thờ 2 vị Thần là “Đệ nhất Thần Cao Sơn” (Thân núi) và “Đệ nhị Thần Hồ Hưng Dật”. Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia (2004).
– Đền Trung đẳng[25]: Theo “Lý lịch di tích Đình Sừng”: “… Vì vậy, vùng đất này (Bàu Trạch Hương, tổng Quỳ Trạch) đã được mở mang, phát triển đến cực thịnh (so với trước). Cũng vì vậy, nhiều địa danh, nhiều tên đất, tên làng ở đây đều gắn liền với công đức, tên tuổi của ông Hồ Hưng Dật. Tưởng nhớ tới công lao to lớn của ông, sau khi ông mất, nhân dân Kẻ Sừng đã tôn ông là Thần Thành Hoàng của làng và lập một ngôi đền to, đẹp, uy nghi nhất làng để thờ phụng ông. Đền này nằm trên một ngọn núi của làng Quỳ Lăng, đền có các tên gọi: “Đền đệ nhị”, “Đền trung đẳng”.
Đền trung đẳng thờ Hồ Hưng Dật, cạnh ngôi mộ cổ tương truyền là mộ trạng nguyên Hồ Hưng Dật trên Rú Quan, thuộc xã Lăng Thành, Yên Thành, năm 1976 bị tháo dỡ. Nay san lấp xây dựng trụ sở UBND, sân vận động xã. Khi đền chưa được phục dựng lại, UBND xã Lăng Thành đã rước bát hương vào Nhà Văn hóa lập bàn thờ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật
Trải qua lịch sử gần 1100 năm, đến nay để lại nhiều di tích, lịch sử cổ: Đền Cận, Đền Trung đẳng thờ Thánh nhân Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, Đình Sừng thờ Thần Thành hoàng “Đệ nhị thần Hồ Hưng Dật” và đệ nhất Thần Cao Sơn (thần núi) di tích lịch sử văn hóa quốc gia (2004). Nhà thờ họ Hồ đai tộc Tam Công lâu đời nhất (1314) ở Tam Thọ, xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, thờ đức Thủy tổ họ Hồ Việt Nam Trạng nguyên Hồ Hưng Dật. Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (1991). Nhiều địa danh mang chứng tích gắn với nhân vật lịch sử Hồ Hưng Dật, như: Vùng đất Tiên sinh họ Hồ (Tiên sinh Ồ Ồ) ở Quỳ Trạch có làng Đội Hồ (nơi đóng quân của Hồ Hưng Dật) Trại Tiên Sinh họ Hồ, có 3 cánh đồng họ Hồ là “Đồng Nhà Hồ”, “đồng tổ Hồ”, “đồng thô lô”, núi nhà Quan, Rú Quan, Ngũ Bàu Hồ, Khe Tổ Hồ, Đập mã tổ Hồ, Bãi tập Hồ, khu lăng mộ cổ họ Hồ…
HỒ HƯNG DẬT – TRẠNG NGUYÊN ĐẦU TIÊN CỦA ĐẠI VIỆT VỚI TRUYỀN THỐNG TINH HOA DÒNG HỌ KHOA BẢNG VÀ CÁCH MẠNG:
Hồ Hưng Dật là Trạng nguyên đầu tiên góp phần khai sáng nền văn hóa Đại Việt từ đầu thế kỷ 10. Người đã hun đúc truyền thống, tinh hoa truyền đời dòng họ Hồ Việt Nam:
Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, Đức Thủy tổ họ Hồ Việt Nam. Người đã truyền lại 40 đời thế hệ, có trên 2,5 triệu con cháu lan tỏa khắp mọi miền trong và ngoài nước. Họ Hồ cùng trăm họ đoàn kết, xây dựng và bảo vệ đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng.
* Tinh hoa đại diện 10 đời thất truyền (Từ đời thứ 2 đến đời thứ 11, nhiều nhân vật lịch sử, quốc sử, thần phả, gia phả ghi nhận, như sau:
Đời 2 (?): Hồ Minh (928) và phu nhân Nguyễn Thị Thái sinh ra Tướng Hồ Thông.
Đời 3 (?): * Hồ Thông (946) quê ở xã Đồng Lạc, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Thông tuệ, văn võ song toàn. Vua Đinh Tiên Hoàng phong Chỉ huy phó sứ, sắc phong “Quảng hóa Hà hải linh thông Thiên Thánh đại vương”, thờ tại Đình Yên Nhân, Chương Mỹ. (Danh sách 267 tướng lĩnh nhà Đinh thứ tự số 6 vần H).
* Tiến sỹ Hồ Khước (khoảng 950?), ở xã Đỉnh Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Làm quan 3 Triều (Đinh – tiền Lê – Lý). Triều đình cho lập Đền thờ phụng ông, thường gọi là Đền Voi Quỳ (Đền Hồ Khước), do nghệ nhân ở làng Đình Hòe xây dựng (khoảng thế kỷ thứ XIII). Đền ngự dưới chân Rú Moóc (Văn Sơn). Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Hà Tĩnh (12/2008).
Đời 4 (?): Hồ Thành, Hồ Thiện, Hồ Công Long (960) Ngọc phả chùa Du Anh (Chùa Thông) ở làng Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Là ba đạo sĩ được ghi Thần tích ở động Hồ Công thời tiền Lê (980-1009).
Đời 5 (?): Hồ Đức Khương (967) thân sinh Hồ Đức Cưởng.
Đời 6 (?): Hồ Đức Cưởng (987), cùng gia đình di cư ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Hồ Đức Cưởng, vào làm Trấn thủ Quảng Bình, Phò mã nhà Lý (lấy Công chúa Lý Kiều Oanh). Khi làm thủ tục di tích lịch sử Quận trưởng Hồ Cưởng (987) con ông Hồ Khương (967) thời nhà Lý (thế kỷ 10) ở Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Lại nhầm lẫn đã ghép Chánh đội trưởng Hồ Hồng làm một. Hồ Hồng (1358), họ Hồ xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An (thời Trần – thế kỷ 14). Theo Quyết định số 490/QĐ, ngày 21/4/1992 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin Trần Hoàn ký. Nhưng sự thật sử phả dòng họ là hai nhân vật lịch sử hoàn toàn khác nhau.
Đời 7 (?): Hồ Thủ Ích (979), Án sát sứ đem 5.000 quân mở đường dẫn quân ở châu Hoan Đường (Hoan Đường và Thạch Hà thuộc Hà Tĩnh nay), là Đạo sỹ lập nhiều công trạng (được 5 sắc phong).
Đời 8 (?): Nhất Lang và Hồ Nhị Lang, đầu nhà Lý (1010-1225), chi phái họ Hồ ở Thạch Hà, Hà Tĩnh, phát triển thịnh vượng có trên 38 đời.
Đời 9 (?): Hồ Bá Tọa (1110), dịch cư qua Hà Tĩnh rồi vào định cư khởi tổ họ Hồ, thôn Hà Thanh, Giao Châu, Do Linh, Quảng Trị. Sau đó dịch cư về đất mới Tân Bình từ thời nhà Lý. Có trên 900 năm với 31 đời.
Đời 10 (?): Hồ Đỗ, năm 1198 nỗi dậy ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh) bị Tể tướng Đàm Dỹ Mông Đàn áp, ly tán (đclsvn tr 166).
Đời 11 (?): Cụ thân sinh Hồ Hữu Khiêm (chưa rõ danh tính), nhà thờ Hồ Hữu Khiêm (đời 12) ở Lệ Trạch, tỉnh Quảng Nam.
* Từ đời thứ 12 (đã được lập sử phả): Cụ Hồ Hữu Khiêm anh Hồ Liêm. Hồ Liêm chuyển ra Thanh Hóa học ở nhà quan Lê Huấn trở thành nghĩa tử
* Đời thứ 13: Cụ Hồ Kha (sinh khoảng năm 1265 – 1274) truyền đời gốc tổ tại họ Hồ đại tộc Tam Công ( Thọ Thành, Yên Thành).
Nối dõi truyền thống khoa bảng và cách mạng[26]:
* Dòng họ có 2 Danh nhân văn hóa thế giới – Tinh hoa nhân loại. 2 Anh hùng giải phóng dân tộc.
* Dòng họ có gia đình 3 thế hệ liên tục đỗ Trạng nguyên đã được vinh danh Kỷ lục Việt Nam là 3 đời “cha con, ông, cháu” đều đỗ Trạng nguyên là Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Học sỹ Hàn lâm viện sỹ, Thái phó đường Quận công; Trạng nguyên Hồ Tông Đốn, Tướng công và Trạng nguyên Hồ Tông Thành, Tướng công.
* Tiếp tục đề nghị Vinh danh dòng họ có một gia đình 6 thế hệ liên tiếp đỗ Tiến sỹ, trong đó có 3 đỗ đầu Tiến sỹ – Trạng nguyên nêu trên và nối tiếp 3 đời Tiến sỹ: Hồ Đình Trung, Đại tướng Đô đốc, Thái bảo mỹ Quận công; Hồ Đình Trụ, Đô đốc, Lộc Quận công và Hồ Doãn Văn, Hiến sát sứ.
* Thời phong kiến: có 11 Tể tướng, Tướng quốc, 20 thượng thư, 26 Tước vương, quận công, 37 Đại Tướng, Đô Đốc, thống chế, thượng tướng quân; 40 đông các học sỹ, hoàng giáp; tiến sỹ nho học, phó bảng…
* Thời đại Hồ Chí Minh: có 14 ủy viên trung ương Đảng (3 UV Bộ Chính trị), 20 hàm bộ trưởng, 22 hàm thứ trưởng, 31 cấp tướng, 51 anh hùng Lực lượng vũ trang và anh hùng Lao động, 3 giải thưởng Hồ Chí Minh, 36 giáo sư, viện sỹ, nhà giáo nhân dân, tiến sỹ khoa học…
* * *
Hồ Hưng Dật là vị Trạng nguyên đầu tiên của Lạc Việt, là hồng phúc cho dòng họ. Dường như Người được mệnh Trời sai đến vùng đất xứ Nghệ. Di duệ của ông là học giả Tiến sỹ, Tể tướng, Thượng thư Hồ Sỹ Dương đã viết một cách bóng bảy trong cuốn “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền”[27], Trạng nguyên Hồ Hưng Dật đã góp phần tạo nền văn hóa Lạc Việt, từ buổi đầu xã hội sơ khai thế kỷ 10.
Tinh thần Hồ Hưng Dật đã hun đúc tâm hồn, đạo sống cho các thế hệ con cháu, lan tỏa cộng đồng về truyền thống hiếu học và giàu lòng yêu nước. Trạng nguyên Hồ Hưng Dật – Đức Thủy tổ họ Hồ Việt Nam và các đời nối tiếp truyền thống khoa bảng và cách mạng vẻ vang. Người để lại cho hậu thế nền tảng học vấn, về đạo nghĩa với triết lý sống “Vạn đại vi dân” là mãi mãi làm dân, vì dân. “Phúc bất tận hưởng” để truyền đời cho con cháu lẽ sống cuộc đời. Tạo nên cốt cách con người xứ Nghệ kiên trung và khiêm nhường, đã góp phần tạo nền móng văn hóa, văn hiến, văn minh Đại Việt.
Trạng nguyên Hồ Hưng Dật đã thực hiện được một phần đóng góp cho nền độc lập Đại Việt trong hai triều đại Ngô – Đinh. Tiếp nối sự nghiệp của Người là những hậu duệ hào kiệt thường xuất hiện khi đất nước đứng trước nguy cơ lớn bị ngoại bang thôn tính, đã quyết chí đứng lên hiệu triệu cùng cả dân tộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Như vua Hồ Quý Ly, vị vua cải cách vượt thời đại, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ), tức Hồ Thơm, người anh hùng dân tộc. Đến thời đại Hồ Chí Minh – Người liên kết trăm họ thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ Hồ vinh dự được Bác khi mới về nước, thì năm 1942 Bác đã chính thức nhận họ và đổi tên mình là Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới, tinh hoa nhân loại. Như Tổng bí thư Lê Duẩn (vốn là gốc họ Hồ), nhà chính trị kiệt xuất của cách mạng Việt Nam và các thế hệ tâm phúc nối nghiệp làm rạng danh tiên tổ và dòng họ.
Luật gia Hồ Minh Hiệu
Nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam
[1] Theo “Họ Hồ Việt Nam – Cội nguồn và phát triển”, NXB KHXH – 2020, trang 241, dòng 15.
[2] Theo “Họ Hồ Việt Nam – Cội nguồn và phát triển”, NXB KHXH – 2020, trang 245, dòng 11 dl, chép: “Lê Duẩn, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, vốn là dòng dõi cụ Hồ Tiết Lăng ở Mỹ Duệ, nay là xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Cố Tổng bí thư Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907, trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị”. Cụ Hồ Tiết Lăng lập công lớn giúp Lê Lợi đánh thắng quân Minh, nên được ơn vua đổi họ mang danh họ Lê.
[3] Sử lược 1, trang 85. Toàn thư 159. Hợp Tộc phả ký tờ 27, 43
[4] Hương Bàu Đót là đúng sử phả. Hồ Tông thế phả cố ý dịch sai từ Hương Bàu Trạch thành Hương Bào Đột vì viết thêm chữ Đột cạnh chữ Trạch, để làm hiểu nhầm “Bàu Đót” (Mã Thành, Yên Thành) với “Bào Đột” (Ngọc Sơn, Quỳnh Lưu).
[5] ĐVSKTT: Bản khắc năm Chính Hòa 18-1697, tập 2, sử ký toàn thư, NXB KHXH – 1985, quyển 3, trang 196, 197
[6] Theo lịch sử xã Mã Thành, trang 8, dòng 8.
[7] Sử lược 1, trang 85. Toàn thư 159. Hợp Tộc phả ký tờ 27, 43
[8] Theo “Họ Hồ VN – Cội nguồn và phát triển[8]” NXB KHXH-2020, trang 23 dòng 1
[9] Đinh Công Trứ đã mất năm 940 mà Hậu Hán là thời kỳ (947- 950).
[10] Theo lịch sử nhà Đinh, “Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, vua phong Thánh thờ tại Đình Tân Phúc xã Quỳ Lăng được Vua vinh danh, nhân dân suy tôn là Thánh nhân, lập Đền Trung đẳng và Đình Sừng khang trang rộng lớn thờ Thần Thành Hoàng tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành và Hồ Thông vua phong “Thiên Thánh đại Vương” thờ tại Đình Yên Nhân (Đồng Lạc, Chương Mỹ, Hà Nội), là hai danh tướng trong số 267 tướng quân nhà Đinh, số thứ tự 6, 7, vần H.
[11] Theo Hồ gia phả ký của Hồ Sỹ Phôi (viết năm 1917)
[12] Lược sử 1, trang 85, Toàn thư 159.
[13] Không còn ai khác ngoài Hồ Hưng Dật, vì:
- a) Nếu nói là anh em Hậu Ngô Vương thì không thể vì suy nhược bất lực, vì từ kinh đô Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) vào đến hai châu này cách trở nhiều vùng của các sứ quân. Thời Ngô Xương Xí, triều đình lại còn yếu hơn nữa, nên sử đã ghép Xương Xí vào hàng sứ quân (Lược sử, trang 82).
- b) Nếu nói là Đinh Bộ Lĩnh cũng không đúng, vì phải mãi đến năm 951 mới được gọi là hùng cứ một phương! (Toàn thư, trang 149, 159) mà thực chất là ở vùng phía Bắc và Đông Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn các sứ quân khó khăn trầy trật đến 16 năm. Đến khi Hồ Hưng Dật hiến kế sách và đưa lực lượng góp phần giúp thì Đinh Bộ Lĩnh mới dẹp xong loạn 12 sứ quân.
- c) Trước đó, ở thời Dương Diên (Đình) Nghệ, Ngô Quyền là Thứ sử châu Ái (Toàn thư, trang 149, 159). Đinh Công Trứ (thân phụ Đinh Tiên Hoàng), là Thứ sử châu Hoan (Lược sử 1). Giữa hai châu đó là châu Diễn thì Hồ Hưng Dật là Thứ sử. Đến thời loạn sứ quân, Dương Diên Nghệ (mất 937), Ngô Quyền cũng không còn (mất 944). Lúc này, ngoài Hồ Hưng Dật không còn ai khác trong hàng lãnh đạo đủ uy tín để giữ vững vùng Hoan – Diễn này!
- d) Gia phả họ Hồ của Hồ Sỹ Hinh viết: “Ông làm quan trong thời Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền và tiếp tục ở địa vị đó xen kẽ vào thời Hậu Ngô Vương (Hồ tộc tờ 27, 43) đến thời Đinh Tiên Hoàng (Trong số 267 tướng lĩnh nhà Đinh vần H, TT6). Ngày đó quan đầu các châu không phải là Thái thú mà là Thứ sử, như Đinh Công Trứ, là Thứ sử châu Hoan cùng thời với Hồ Hưng Dật.Những điều nói trên, đã minh chứng công lao phụng sự Đại Việt của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, Trấn thủ châu Hoan, thế kỷ 10 (có tài liệu viết là Đinh Bộ Lĩnh thay cha Đinh Công Trứ sau 940, làm thứ sử châu Hoan mà châu Hoan lúc này là gồm cả vùng châu Diễn trước thời Ngô Vương. Nên cần xem xét chứng cứ cụ thể).
- e) Theo Lịch sử Việt Nam (15 tập – 2018, tập 2 trang 67, 68)“Trong thời kỳ này ở địa phương, tổ chức công xã nông thôn với đặc tính vốn có của nó vẫn còn tồn tại khá đậm nét. Tình trạng đó còn được duy trì với sự có mặt của các tầng lớp thổ hào, đại diện cho các dòng họ thực sự là những thực thể vùng. Tiêu biểu là:
– Họ Dương, họ Lê ở Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay)
– Họ Đinh ở Trường Châu (Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay)
– Họ Hồ ở Châu Diễn (Quỳnh lưu ngày nay).? là sai lịch sử vì Thế kỷ 10 chưa có huyện Quỳnh Lưu, đến Thế kỷ 17 mới thành lập huyện Quỳnh Lưu (1686). Họ Hồ ở Châu Diễn, (Nghệ An ngày nay) mới đúng lịch sử
Đây là những dòng họ có ảnh hưởng rất lớn ở các vùng và khi gặp thời cơ thuận lợi thì xu hướng ly tâm chính quyền Trung ương, ý đồ “xưng vương, xưng bá” thường xuất hiện”.
- g) Theo Tạp chí Nghiên cứu và phát triển (số 1 – 2012), bài của Trần Trọng Dương: “Đinh Bộ Lĩnh chính là người cát cứ sớm nhất, lâu nhất trong thời nhà Ngô. Đằng sau ông có thể còn có sự tiếp tay âm thầm của sứ quân Trần Lãm và các lực lượng thuộc phe nhóm họ Dương (hay thế lực “tiềm ẩn khác”- HMH). Sự thực lịch sử này đã bị che khuất”. Vậy thế lực “tiềm ẩn” bị che khuất đó phải chăng là quan Trạng Hồ Hưng Dật (bạn đồng liêu thân phụ Đinh Bộ Lĩnh), đã bị lãng quên, bỏ ra ngoài lịch sử?d) Gia phả họ Hồ của Hồ Sỹ Hinh viết: “Ông làm quan trong thời Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền và tiếp tục ở địa vị đó xen kẽ vào thời Hậu Ngô Vương (Hồ tộc tờ 27, 43) đến thời Đinh Tiên Hoàng (Trong số 267 tướng lĩnh nhà Đinh vần H, TT6). Ngày đó quan đầu các châu không phải là Thái thú mà là Thứ sử, như Đinh Công Trứ, là Thứ sử châu Hoan cùng thời với Hồ Hưng Dật.
Những điều nói trên, đã minh chứng công lao phụng sự Đại Việt của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, Trấn thủ châu Hoan, thế kỷ 10 (có tài liệu viết là Đinh Bộ Lĩnh thay cha Đinh Công Trứ sau 940, làm thứ sử châu Hoan mà châu Hoan lúc này là gồm cả vùng châu Diễn trước thời Ngô Vương. Nên cần xem xét chứng cứ cụ thể).
[14] Theo lịch sử xã Mã Thành trang 8 dòng 19.
[15] Lịch sử Họ Hồ đại tộc Tam Công…,NXB Nghệ An 26/11/2020, trang 20, dòng 10 tx. Lịch sử xã Mã Thành, NXB VHTT Nghệ An -1999, trang 8, dòng 10, 11, “ Lịch sử Đảng bộ huyện Diễn Châu – 1988 (tập 1, trang 5, 6). “ Lịch sử Nghệ Tĩnh” (tập 1 NXBNT, trang 70) và “ Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn (trang 11, d4) đều ghi chép Lỵ sở Châu Diễn đóng tại Quỳ Lăng xưa, nay là xã Lăng Thành, huyện Yên Thành (nói Lỵ sở Châu Diễn đóng ở Nghĩa Đàn là sai lịch sử)
[16] “Lý lịch di tích Đình Sừng”[16] (trang 3, dòng 10)
[17] Gia phả họ Hồ đại tôn Thuận An, xã Việt Thuận, Vũ Thư, Thái Bình còn truyền lại: “Cụ (Hồ Hưng Dật) thấy Nghệ An, huyện Đông Thành, tổng Quỳ Trạch, xã Quỳ Trạch, sơn thủy hữu tình, có một “huyệt địa” thường ngày ào ào nước chảy, xen lẫn tiếng nhạc, cảm nhận huyệt linh, Cụ đã trở về Ngô Việt rước “ngọc cốt của tiền nhân” an táng tại huyệt này. Sau khi an táng xong, huyệt đột nhiên trở thành gò núi, dòng nước không chảy nữa. Về sau thấy con cháu phát phúc, đăng khoa”.
[18] Theo Lịch sử huyện Yên Thành, NXB Nghệ Tĩnh, 1990, LSHHĐT Tam Công, NXB Nghệ An – 2020, trang 189 dòng 5 dl, đầu trang 190
[19] Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, trang 11, dòng 4 tx
[20] Theo Hồ Tông thế phả trang 13 phiên âm, (trang 127 Hán nôm, dòng 5)Bản thẩm định, dịch thuật và hiệu đính của Viện nghiên cứu Hán nôm (26/12/2023) về phần “mở đầu Hồ Tông thế phả” (trang 10, dòng 7, chú giải 13): “Chính mạch văn là chữ Bàu Trạch, chữ Đột là viết phụ thêm chữ nhỏ bên cạnh chữ Trạch” trong cuốn Hồ Tông thế phả Hán Nôm (trang 127, dòng 5), dịch đúng nghĩa câu là “ nhà ở Hương Bàu Trạch “. Nhưng vì viết phụ thêm chữ “ Đột” bên cạnh chữ “Trạch” chính câu và 4 chữ “nay là Bào Giang”, để dịch nghĩa sai là “ Hương Bào Đột” là sai lịch sử, sai gia phả và sai cả địa danh.
[21] ĐVSKTT của sử thần Ngô Sĩ Liên, Ông Hồ Sỹ Phôi chép trong Hồ Tông Thế Phả
[22] Gia Phả Quỳnh Đôi của Hồ Sỹ Hinh, trang 21, dòng 6 dl. Câu này chứng tỏ Hồ Hưng Dật văn võ toàn tài và xác nhận ông là thủ lĩnh trong thời loạn 12 sứ quân ở Châu Hoan. Ông Hồ Nguyên Cát và ông Hồ Sỹ Giàng xác nhận bằng thủ bút các đoạn văn này chắc chắn không còn trong các bản quốc sử nhà Nguyễn.
[23] Theo lịch sử xã Mã Thành, trang 8, dòng 11.
[24] Đền Trung đẳng và Đình Sừng: thờ “Đệ nhị Thần” Hồ Hưng Dật cùng “Đệ nhất Thần Cao Sơn là Thần Núi” tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành: Lịch sử huyện Yên Thành tập 1, trang 5,6. Lý lịch di tích Đình Sừng Bảo tàng Nghệ An – 2001, trang 5, dòng 9, Trang 29, 30.
[25] Đền Trung đẳng và Đình Sừng: thờ “Đệ nhị Thần” Hồ Hưng Dật cùng “Đệ nhất Thần Cao Sơn là Thần Núi” tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành: Lịch sử huyện Yên Thành tập 1, trang 5,6. Lý lịch di tích Đình Sừng Bảo tàng Nghệ An – 2001, trang 5, dòng 9, Trang 29, 30.
[26] Nguồn “ Họ Hồ Việt Nam – Cội nguồn và phát triển
[27] Thượng thư Tiến sỹ Hồ Sỹ Dương không thể viết thẳng về Hồ Hưng Dật được, vì trước ông, thời Lê Thánh Tông, sử thần Ngô Sĩ Liên đã nhấn chìm Hồ Hưng Dật như nói trên.